Toàn Tập Thức Ăn Cho Gà Hiệu Quả Cao

Chăn nuôi mang lại nhiều lợi ích cho con người. Nhưng làm sao để chăn nuôi hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích kinh tế thì không phải ai cũng có nhiều hiểu biết về thức ăn để có thể làm cho đúng. Hôm nay BSF Smart Farm sẽ đi cùng bạn qua các vấn đề để có thể mang lại hiệu quả cho việc chăn nuôi của bạn. Bài viết khá dài nên bạn có thể chọn mục lục để đến nhanh phần mình cần tìm hiểu nhé.

Công Thức Pha Trộn Thức Ăn Cho Gà Đạt Hiệu Quả Cao

Thức ăn đó đủ chất bổ dưỡng với tỷ lệ pha trộn hợp lý giữa các chất đạm, bột đường, chất béo, khoáng chất, vitamin thì gà sẽ sinh trưởng tốt, khỏe mạnh, lớn nhanh, đẻ sai, trứng lớn. Ngược lại, nếu khẩu phần ăn pha trộn cẩu thả, được chất này thiếu chất khác, thứ quá thừa thứ lại quá thiếu thì gà ăn vào sẽ bị ốm đau, bệnh tật, trống mái sinh sản đều không tốt.
Điều đó cho ta thấy, nuôi gà công nghiệp phải thường xuyên theo dõi sức khỏe của gà qua từng giai đoạn phát triển ra sao để theo đó mà tính khẩu phần ăn nuôi chúng cho hợp lý, cho có lợi. Vì gà có khỏe mạnh, chóng lớn, đẻ sai thì chủ nuôi mới thu được nhiều lời. Nuôi gà công nghiệp ta cần biết nhu cầu về chât đạm và chất bột đường của gà ra sao để cho chúng ăn đúng mức.
NHU CẦU VỀ CHẤT BỘT ĐƯỜNG TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA GÀ ĐƯỢC TÍNH NHƯ SAU:
– Gà trưởng thành: từ 54 đến 60 phần trăm
– Gà đẻ: từ 50 đến 55 phần trăm
– Gà vài ba tuần tuổi: từ 40 đến 45 phần trăm
– Gà giò: từ 50 đến 55 phần trăm
– Gà thịt: từ 60 đến 65 phần trăm
Xin được lưu ý thêm là tỷ lệ chất bột đường trong khẩu phần ăn của gà cần phải tính toán cho hợp lý: nếu thiếu sẽ không cung cấp đủ nhiệt lượng cho gà khiến gà còi cọc, chậm lớn. Ngược lại nếu tỷ lệ chất bột đường dư thừa thì sẽ sinh ra lớp mỡ dự trữ khiến gà bị mập. Như vậy nuôi gà thịt thì có lợi, còn gà mái đẻ thì nân, trống cũng giảm khả năng đạp mái.
Nhu cầu về chất đạm trong khẩu phần gà được tính như sau:
Gà vài ba tuần tuổi: từ 19 đến 21 phần trăm
Gà thịt: từ 12 đến 15 phần trăm
Gà giò: 18 phần trăm
Gà đẻ: từ 16 đến 17 phần trăm
(Xin được lưu ý: khẩu phần ăn của gà có tỷ lệ đạm quá cao sẽ có hại cho sức khỏe của gà, có thể giết chết nó. Nhưng, nếu thức ăn có tỷ lệ đạm thấp, gà sẽ ốm yếu, bệnh tật, tăng trưởng chậm).
* Tính khẩu phần thức ăn nuôi gà
Đến đây, chúng ta đã biết đến thành phần các chất cần thiết trong khẩu phần ăn của gà gồm có những gì, và nguyên liệu để pha chế gồm có những gì. Đồng thời cũng nắm rõ nhu cầu ăn uống của gà ra sao từng giai đoạn phát triển tốt. Từ đó, ta có thể tự tìm ra một công thức về khẩu phần ăn thích hợp đối với từng loại gà.
Nên tự khắt khe với chính mình trong việc chọn lựa một công thức về khẩu phần hợp lý nhất, bằng cách đặt ra nhiều câu hỏi, rồi sau đó tự tìm lấy cây trả lời. Chẳng hạn:
Có tăng thêm khoáng chất cho gà con không?
Có nên bớt cám thay tấm?
Liệu chất đạm trong công thức có thiếu không?
Liệu chất bột đường có dư thừa lắm không?
Khi có sự cân nhắc, đắn đo, ta có thể dễ dàng tìm được cho mình công thức thích nghi đển nuôi gà. BSF xin đơn cử vài ví dụ:

Công thức khẩu phần ăn cho gà đẻ

Bánh dầu Bột bắp Cám gạo Bột xương Muối bột Bột sò Bột thịt Bánh dầu dừa Tổng Bột Ấu Trùng
10% 45% 20% 0,5% 0,5% 2% 8% 7% 100% 7%

Công thức khẩu phần ăn cho gà con

Bánh dầu Bột bắp Cám gạo Bột xương Muối bột Bột sò Tấm gạo Mày đậu xanh Bột Ấu Trùng Tổng
10 % 30 % 20 % 0,5 % 0,5 % 0,5 % 14 % 10 % 14,5 % 100%

Công thức khẩu phần ăn cho gà giò:

Bánh dầu Bột bắp Cám gạo Bột xương Vôi chết Muối bột Bột sò Bánh dầu dừa Bột thịt Bột Ấu Trùng Tổng
10 % 40% 20% 0,5 % 0,5% 0,5% 0,5% 8 % 5% 5% 100%

Công thức khẩu phần ăn cho gà thịt:

Bánh dầu Bột bắp Cám gạo Bột xương Vôi chết Muối bột Bột sò Bánh dầu dừa Bột thịt Bột Ấu Trùng Tổng
10 % 50% 28% 0,5% 0,5% 0,5% 1% 5% 5% 5% 100%

Thức Ăn Nuôi Gà Công Nghiệp

Khác với gà nuôi thả vườn tự tìm kiếm thức ăn có sẵn trong cây cỏ, dưới đất như hột rơi rụng, con trùn con dế mà sống, gà công nghiệp nuôi nhốt trong chuồng và chỉ biết sống dựa vào nguồn thức ăn của chủ cung cấp. No thì chắc chắn no, nhưng nếu thức ăn nuôi gà công nghiệp không đủ chất bổ dưỡng thì mái đẻ sẽ ốm yếu, năng suất trứng giảm sút, còn gà trống sẽ bớt vẻ năng động, lười biếng phủ mái và trứng sẽ thiếu cồ.
Điều này thì người nuôi gà công nghiệp nào cũng phải biết đến và đặc biệt quan tâm. Từ đó mới cố tìm ra khẩu phần ăn bổ dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng của gà công nghiệp.
Bạn cũng biết rằng là đời sống của gà trải qua nhiều thời kỳ sinh trưởng khác nhau: từ gà con, đến gà giò rồi đến gà đẻ, gà thịt. Mỗi thời kỳ đó gà cần được cung cấp một khẩu phần ăn thích hợp đúng với nhu cầu thì chúng mới sinh trưởng tốt được.
Nói cách khác, không phải gà lớn nhỏ gì cũng nuôi một thứ thức ăn như nhau. Mà gà con có thức ăn của gà con, gà đẻ có thức ăn của gà đè, và gà thịt cũng vậy.
Thức ăn nuôi gà công nghiệp đã được chế biến sẵng và đóng bao bán rộng rãi ngoài thị trường. Cần mua ‘cám gà’ nuôi gà loại nào ta cứ việc bỏ tiền ra mua cho gà ăn.
Tuy vậy, ta cũng cần biết trong thức ăn nuôi gà gồm có những thành phần gì, và sự cần thiết của chất đó đối với sự sinh trưởng của gà ra sao để tiện gia giảm nếu cần, hoặc tự tay chế biến, pha trộn lấy mà dùng cho tiện.
Trong thức ăn nuôi gà công nghiệp có những thành phần như sau:

Chất bột đường

Chất bột đường trong khẩu phần ăn nuôi gà được coi là thức ăn chính, là thức ăn cơ bản nhằm cung cấp những năng lượng cần thiết cho gà. Chất bột đường có nhiều trong bắp vàng, tấm cám gạo, khoai lang, khoai mì.
a. Bắp vàng
Bắp có nhiều loại như bắp trắng (nếp), bắp vàng. Nhưng trong chăn nuôi gia súc gia cầm, người ta dùng bắp vàng nhiều hơn vì trong bắp vàng có chứa nhiều carotene. Bắp nuôi gà được xay nhuyễn như cám để gà ăn mau tiêu, và thường chiếm đến khoảng trên dưới 40% trong khẩu phần ăn của gà.
Trong bắp chỉ có 8% chất đạm, ít chất khoáng, 3,9% chất béo, nhưng chứa đến 74% chất bột đường và nhiều vitamin như vitamin A, vitamin B1, vitamin B2.
Bột bắp chứa nhiều chất dinh dưỡng và năng lượng. Bắp là nông sản chính của ta, sau lúa, được trồng quanh năm và bán với giá rẻ.
b. Cám gạo
Cám gạo có 2 loại: cám to và cám nhuyễn. Trong cám to chứa nhiều chất xơ do vỏ trấu xay nát ra, có lẫn ít tấm và mày gạo. Vẫn biết trong cám to có chứa 49,29% chất bột đường, một ít chất béo và chất đạm, nhưng ít ai chịu dùng cám to làm thức ăn nuôi gà công nghiệp mà thường dùng cám nhuyễn.
Trong cám nhuyễn có chứa đến 54% chất bột đường và 10,27 phần trăm chất béo. Nhược điểm của cám nhuyễn là dễ bị mốc, nếu bảo quản kém không thể để lâu được vài ba tháng. Cám đã mốc thì bỏ đi, cho gà ăn dễ bị ngộ độc.
c. Tấm gạo 
Tấm gạo là một phần nhỏ hột gạo bị bể ra do qua quá trình xay giã mà thành. Tấm gạo là thức ăn của người, giá đắt hơn gạo nguyên hột. Gà ăn tấm rất tốt vì trong tấm gạo có chứa đến 71% chất bột đường, nuôi gà con rất tốt.
d. Khoai lang
Khoai lang dùng làm thức phẩm cho gà có thể cho ăn chín hoặc sống. Thường thì chế biến thành bột để trộn vào thức ăn nuôi gà. Trong khoai lang chứa nhiều chất bột đường (80%), nhưng các thành phần đạm, chất béo và vitamin rất thấp. Do đó tỷ lệ khoai lang trong khẩu phần ăn của gà không cao.
e. Khoai mì
Khoai mì cũng chứa nhiều chất bột đường nhưng ít đạm hơn bắp vàng. Trong củ khoai mì có chứa axit cianhydric nên gà ăn nhiều sẽ bị ngộ độc. Muốn làm thức ăn nuôi gà ta phải lột bỏ lớp vỏ khoai mì rồi ngâm củ vào nước trong 24 giờ (thay nước ngâm nhiều lần cho xả bớt chất độc) rồi mới xay thành bột.
Cũng như khoai lang, khoai mì chỉ trộn với tỷ lệ khoảng 10% torng khẩu phần ăn nuôi gà mà thôi.
Thức ăn của gà mà thiếu chất bột đường gà sẽ ốm yếu do thiếu mỡ dự trữ. Nhưng nếu trong thức ăn của chúng có quá nhiều chất bột đường thì gà sẽ chóng mập do mỡ dự trữ thặng dư. Từ đó gà mái đẻ ít lại và lâu ngày sẽ bị nân. Còn gà trống thì đi đứng nặng nề do quá mập, khả năng đạp mái kém.

Chất đạm

Trong thức ăn nuôi gà công nghiệp, chất đạm có vai trò quan trọng, vì chức năng của chất đạo là tạo nên thịt, gân, lông, trứng. Do đó, nếu trong khẩu phần ăn của gà thiếu chất đạm, gà con sẽ sống èo uột, gà mái đẻ ít mà chất lượng trứng cũng không đạt, gà trống phủ mái thiếu cồ, còn gà thịt thì chậm lớn.
Có 2 loại đạm là đạm động vật và đạm thực vật. Đạm động vật có trong bột cá, bột thịt, bột tép, bột huyết, trong các loài sâu bọ, trong cua, ốc, tép, ruốc …
Đạm thực vật có trong các cây họ đậu như đậu xanh, đậu đỏ, đậu đen, đậu nành, đậu phộng …
Thức ăn của gà cần gồm đủ cả 2 loại đạm này, như vậy mới đủ bổ dưỡng giúp gà sinh trưởng tốt và tăng trưởng mạnh. Đây là phần thức ăn bổ sung.
a. Bột thịt
Trong bột thịt chứa hơn 60% chất đạm cho gà ăn rất tốt. Bột thịt làm từ thịt heo, thịt trâu bò, gà vịt … cùng phần nội tạng lấy trong các lò mổ ra chế biến thành bột để trộn trong khẩu phần ăn gia súc, gia cầm. Đây là thức ăn bổ sung, bổ dưỡng nhất nhưng cũng đắt tiền nhất từ trước đến nay.
Trong bột ấu trùng có chứa hơn 50% đạm và các axit amin khác, cho gà ăn mau tăng trọng. Bột ấu trùng ruồi lính đen được sấy khô công nghệ cao và xay nhuyễn làm thức ăn nuôi gia cầm gia súc. Khẩu phần ăn của gà không thể thiếu bột ấu trùng. Đặc biệt trong bột ấu trùng còn có những chất tăng sức đề kháng và phòng bênh cho gia cầm hiệu quả.
c. Bột ruốc
Ruốc là loài tép biển, thân mình nhỏ bằng phân nửa con tép đồng, khi sống thân có màu hồng lợt. Ruốc xuất hiện trên mặt biển theo mùa và nổi lên từng đám lớn dày đặc hàng tỉ tỉ con. Ngư dân lưới về lớp làm mắm ruốc, lớp phơi khô làm thức ăn cho người hoặc xay thành bột làm bột ruốc trộn vào thức ăn nuôi gà.
Bột ruốc so với bột cá rẻ hơn nhiều, mà số đạm trong bột ruốc cũng tương đương với bột cá. Có thể thay bột ruốc thành bột tép, giá trị đạm cũng tương đương nhau, duy có điều tép bao giờ cũng đắc hơn ruốc.
d. Bánh dầu phộng
Còn gọi là khô bánh dầu. Đậu phộng nguyên hột cho vào máy ép lấy dầu. Phần xác bã còn lại được ép cứng thành khối dày độ 2cm to như cái bánh tráng nước, gọi là bánh dầu. Tán nhỏ bánh dầu này ra thành bột làm thức ăn bổ sung nuôi gà rất tốt. Vì trong bánh dầu phộng có chứa đến khoảng 45% chất đạm và hơn 5% chất béo.
Bánh dầu phộng để lâu sẽ bị nổi mốc, gà ăn vào sẽ bị ngộ độc. Vì vậy, không nên để bánh dầu lâu quá 2 tháng.

Chất béo

Chất béo chứa nhiều trong các loại hột có dầu như đậu phộng, xác dừa, hột mè … và trong dầu cá, mỡ động vật.
Công dụng của chất béo trong thức ăn nuôi gà công nghiệp là được gà hấp thu vào cơ thể sinh ra nhiệt lượng, cũng giống như chất bột đường vậy. Thế nhưng lượng chất béo cung cấp trong thức ăn nuôi gà chỉ nên ở mức độ 5% là vừa. Nếu gà ăn nhiều chất béo quá thì sẽ bị tiêu chảy.

Chất khoáng

Chất khoáng pha trộn vào thức ăn của gà nhằm bồi bổ xương cốt và tạo thành vỏ trứng. Những thức ăn giàu chất khoáng như tôm tép, con ruốc, cá con, bột xương, vỏ sò, vôi tôi (vôi nung chín), vỏ ốc, cua còng …
Vai trò quan trọng của chất khoáng trong thức ăn nuôi gà công nghiệp là kiến tạo và bảo vệ các tế bào, vì vậy gà ăn thiếu chất khoáng thì cơ thể bị mất khả năng đề kháng dẫn đến gà mái sinh sản kém, gà thịt bị sụt cân. Đó là chưa nói đến việc thiếu chất khoáng thì các chất bột đường, chất đạm, chất béo, có ăn nhiều cũng không được đồng hoá.
Chất khoáng có nhiều trong:
a. Bột xương, bột sò
Tại sao trong khẩu phần thức ăn nuôi gà công nghiệp cần trộn thêm khoảng vài ba phần trăm bột xương, bột sò?
Vì trong bột xương, bột sò có chứa nhiều chất vôi (calci) và chất lân (phosphore) rất cần thiết cho sự phát triển khung xương và tạo nên vỏ trứng. Các loại vôi chết (vôi tôi), vỏ trai, vỏ sò nung chín rồi tán nhuyễn trộn vào thức ăn cho gà ăn. Gà đẻ và gà con, gà giò rất cần đến các khoáng chất này.
Bạn cũng biết muốn làm nên vỏ trứng thì mỗi ngày con gà mẹ cần đến 2g chất vôi. Do đó, nếu thiếu vôi gà sẽ đẻ trứng non và đẻ không đều, như đẻ cách nhật, hoặc một ngày đẻ đôi ba ngày nghỉ.
Gà mà thiếu chất phosphore thì tăng trưởng chậm. Ngược lại nếu phosphore đầy đủ thì gà tơ mau lớn, gà mẹ đẻ sai.
b. Chất sắt, đồng, kẽm
Các chất sắt (Fe), đồng (Cu), kẽm (Zn) là những khoáng chất cũng góp phần vào việc giúp gà tăng trưởng mạnh. Thiếu sắt, gà sẽ bị suy dinh dưỡng; thiếu đồng xương gà bị giòn do vỏ xương mỏng dần và xơ cứng động mạch; thiếu kẽm thì phôi trứng yếu, gà con có nở được cũng khó nuôi.
Thường thì những khoáng chất này đã có sẵn trong các loại thức ăn trong khẩu phần ăn của gà.

Chất muối

Trong khẩu phần thức ăn nuôi gà công nghiệp đều có trộn muối bột chừng 0,5% mà thôi. Thế nhưng, gà không thể thiếu muối. Muối góp phần vào việc giúp gà ăn ngon miệng, ăn được nhiều, rồi kích thích cho gà uống được nhiều nước, và nhờ đó mới tiêu hoá được thức ăn nhanh.

Vitamin

Vitamin rất cần thiết cho sự sống của gà. Chức năng của vitamin là đồng hoá được các khoáng chất. Vì vậy, nếu khẩu phần ăn thiếu vitamin, gà sẽ còi cọc, ốm yếu, xù lông, bại xuội và chết lần mòn.
Nếu được cung cấp đầy đủ vitamin, nhất là vitamin A, D, E gà sẽ tăng trọng nhanh, sống sởn sơ, mái đẻ sai, trống hăng phủ mái và trứng nhiều cồ.
Vitamin A
Vitamin A có nhiều trong dầu gan cá morue, trong tròng đỏ trứng gà, bắp vàng, củ cà rốt, khoai lang bí, cà chua chín, rau muốn, rau dền … Nếu thiếu vitamin A gà bị bệnh đau mắt, bị bệnh thần kinh, gà mẹ đẻ kém, các gà khác chậm lớn, dễ bị bệnh và chết nhiều.
Vitamin B1
Vitamin B1 có tác dụng đồng hoá chất bột đường và tiêu diệt các chất axit hữu cơ giúp gà ăn được nhiều. Nếu thiếu vitamin này gà không những bị chứng biết ăn gầy còm mà còn bị bệnh thần kinh như đứng niễng đầu ra sau, chân yếu, thích nằm một chỗ như có triệu chứng bại xuội.
Nên cho gà ăn bột gạo lức, bột bắp vàng, mày đậu xanh, bột cá, khô bánh dầu … những thức ăn này có chứa nhiều vitamin B1.
Vitamin B2
Vitamin B2 có tác dụng đồng hoá các chất đạm. Thiếu vitamin B2 gà bị xù lông, kén ăn, tiêu chảy và cũng có triệu chứng bị bại liệt.
Vitamin D
Vitamin D rất cần thiết cho gà mọi lứa tuổi, nhất là gà con, gà giò và gà đẻ. Vitamin này có tác dụng đồng hoá khoáng chất, giúp cho xương gà cứng cáp và nhanh lớn. Nếu thiếu vitamin D gà sẽ bị còi xương, xương mềm, xương yếu do khớp xương phù, khiến gà đi đứng khó khăn nên chỉ muốn nằm một chỗ. Gà mái đẻ kém.
Vitamin D có nhiều trong dầu gan cá, trong sữa, trứng và trong ánh nắng sáng.
Mỗi sáng nên thả gà ra sân để chúng tắm nắng. Ánh nắng ban mai trước 9 giờ sáng có tác dụng giúp cơ thể gà tổng hợp vitamin D, từ đó tăng khả năng hấp thụ canxi, tránh được bệnh còi xương và sống sởn sơ, năng động.
Vitamin E
Vitamin E có nhiều trong mộng lúa, trong giá đậu, trong bột bắp, cám nhuyễn, mày đậu xanh, khô bánh dầu, xác dừa …
Vitamin E ảnh hưởng đến sự đẻ trứng của gà mái, và sự truyền giống của gà trống. Thiếu vitamin E, gà con thường bị chết trong trứng, còn con nào nở được cũng sống èo uột khó nuôi.

Nước uống

Gà công nghiệp thường chỉ ăn thức ăn khô nên uống nước rất nhiều, nhất là trong mùa nắng.
Gà con một tuần tuổi một ngày uống khoảng 25cc nước; gà ba tháng tuổi uống mỗi ngày 100c nước.
Nước cho gà uống phải là nước sạch dùng cho người uống, dù đó là nước mưa, nước máy hay nước giếng. Nên thay nước mỗi ngày cho gà uống, và máng đựng nước cũng nên cọ rửa sạch sẽ mỗi lần thay nước mới vào.

Thức Ăn Cho Gà Hướng Thịt Tiêu Chuẩn

Nuôi gà sinh sản hướng thịt (giống BE, AA, Isa, ROSS, SASSO…) được chia thành 5 giai đoạn: gà con, gà giò (hậu bị đẻ), gà đẻ khởi động, gà đẻ pha I và gà đẻ pha II. Ứng với mỗi giai đoạn nuôi có tiêu chuẩn khẩu phần thức ăn kèm theo.

1. Tiêu chuẩn khẩu phần thức ăn gà con 0-6 tuần tuổi

Gà con sinh trưởng nhanh, trao đổi chất mạnh, vì vậy, thức ăn cho gà con phải đầy đủ về số lượng. Các nguyên liệu đã sản xuất thức ăn phải tốt (ưu tiên số 1). Trong 3 tuần đầu, cho gà ăn tự do cả ngày lẫn đêm. Sau 3 tuần tuổi cho ăn hạn chế theo khối lượng cơ thể gà ở các tuần tuổi (đối với gà trống 4-6 tuần tuổi cho ăn từ 44-54g thức ăn/ngày tương đương với khối lượng cơ thể 605-860g; gà mái cho ăn từ 40-50g thức ăn/ngày tương đương với khối lượng cơ thể 410-600g.

2. Thức ăn cho gà giò 7-20 tuần tuổi

Đặc điểm gà ở giai đoạn này là tiếp tục tăng trưởng nhanh, nhưng tích luỹ mỡ nhiều (chóng béo), đối với gà hậu bị lại phải kìm hãm tăng khối lượng cơ thể và chống béo, để khi lên đẻ cho sản lượng trứng cao và ấp nở tốt. Vì vậy, phải hạn chế số lượng, kể cả chất lượng thức ăn. Số lượng thức ăn giảm còn khoảng 50-70% so với mức ăn tự do ban đầu. Còn protein và năng lượng thấp hơn gà đẻ. Gà trống cho ăn tăng dần từ 58-108g thức ăn/con/ngày, tương đương với khối lượng cơ thể từ 1-2,8kg, gà mái từ 54-105g thức ăn/con/ngày, tương đương với khối lượng cơ thể từ 0,7-2kg.
– Ưu điểm của cho ăn hạn chế là chống béo sớm, tạo ngoại hình thon, kéo dài thời kỳ đẻ trứng đến 2 tuần, tăng sản lượng trứng giống, đặc biệt là kéo dài thời kỳ đẻ đỉnh cao, tăng số gà con/mái…
– Thực hiện nghiêm ngặt cho ăn hạn chế đối với gà hậu bị hướng thịt là yếu tố quyết định để đạt hiệu quả cao khi gà đi vào sản xuất con giống 1 ngày tuổi.

3. Tiêu chuẩn khẩu phần cho gà đẻ 21-64 tuần tuổi

– Đẻ khởi động 21-24 tuần tuổi: Đặc điểm của giai đoạn này là gà vừa ăn vừa hạn chế xong nên số lượng thức ăn cho gà phải tăng từ từ. Nhưng chất lượng thức ăn như protein, năng lượng… lại cao hơn gà hậu bị và gà đẻ ở giai đoạn sau để đáp ứng cho gà con đang tăng trọng, phát triển và hoàn thiện chức năng sinh sản chuẩn bị cho giai đoạn đẻ cao.
– Đẻ pha I từ 25-40 tuần tuổi: Giai đoạn này gà đẻ cao nhất, gà hầu như đã thành thục hoàn toàn, tăng trọng không đáng kể cho nên thức ăn phải đảm bảo cho sản xuất trứng cao. Số lượng thức ăn cho gà ở giai đoạn này là cao nhất, nhưng chất lượng có thấp hơn giai đoạn đẻ khởi động. Nhưng tính ra thì lượng và vật chất khô và dinh dưỡng của thức ăn cung cấp cho gà ở giai đoạn này là cao nhất do gà ăn lượng thức ăn trên dưới 160g/con/ngày.
– Đẻ pha II từ 41-64 tuần tuổi: Giai đoạn này có thể kéo dài hoặc rút ngắn tùy theo giá cả thị trường. Đặc điểm của giai đoạn này là gà đẻ giảm dần, tích lũy mỡ bụng nhiều cho nên phải giảm cả số lượng và chất lượng thức ăn cung cấp cho gà. Thức ăn giảm dần từ 160g xuống 145g/con/ngày.
+ Thức ăn cho gà trống ở thời kỳ đạp mái thấp hơn so với gà mái cả lượng và chất. Hiện nay ở nước ta, áp dụng phương pháp cho ăn tách riêng trống mái với số lượng thức ăn cho gà trống 125-130g/con/ngày trong suốt thời kỳ sản xuất.
+ Giảm sinh sản thời kỳ đẻ trứng giống cần bổ sung vitamin A, D, E vào thức ăn định kỳ 3 ngày/lần (có thể ngâm thóc mầm cho gà ăn). Mùa nóng cho gà uống nước điện giải và vitamin C.

Thức Ăn Cho Gà Sinh Sản Năng Suất Cao

1. Giai đoạn gà được 0-6 tuần tuổi

Ở giai đoạn này, mặc dù gà còn nhỏ nhưng sinh trưởng và phát triển khá nhanh đòi hỏi bà con cần cung cấp lượng thức ăn cho gà đủ cả về số lượng lẫn chất lượng. Đặc biệt, với nguồn thức ăn tự nhiên, bà con cần đảm bảo cho gà ăn ngay sau khi chế biến, thức ăn còn tươi và ngon.
Về thời gian cho gà ăn, bà con nên cho gà ăn tự do trong khoảng 3 tuần đầu tiên. Sau đó, lượng thức ăn cần có sự điều chỉnh tương xứng với trọng lượng cơ thể hiện tại của gà . Thông thường, với gà có cân nặng khoảng 600gr đến 800gr, bà con nên cho gà ăn khoảng 50 gr thức ăn. Trong khi đó, với gà có cân nặng nhỏ hơn từ 400gr đến 600gr, bà con hãy cho gà ăn khoảng 40gr thức ăn.

2. Giai đoạn gà 7-20 tuần tuổi (gà giò)

Ở giai đoạn này, gà vẫn tăng trưởng nhanh nhưng thay vì tập trung vào phát triển các bộ phận của cơ thể, gà chuyển sang giai đoạn tích mỡ khá nhiều. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất trứng mà còn ảnh hưởng đến quá trình ấp trứng của gà. Tốt nhất là bà con hãy hạn chế thức ăn cả về số lượng lẫn chất lượng sao cho chỉ bằng 50 -60% so với trước đó và lượng protein trong thức ăn cũng giảm hơn.

3. Giai đoạn gà đẻ 21-64 tuần tuổi

– Từ 21- 24 tuần: Trong thời gian khoảng 4 tuần này, bà con bắt đầu gia tăng lượng thức ăn so với giai đoạn trước. Đặc biệt, chất lượng thức ăn nhất là hàm lượng protein cần được đảm bảo, giúp gà phát triển ổn định để chuẩn bị bước vào giai đoạn sinh sản.
– Từ 25-40 tuần: Đây là giai đoạn gà sinh sản tốt nhất. Lúc này, cân nặng của gà chỉ duy trì ổn định, tăng trọng ít nên bà con hãy tập trung vào việc cung cấp thức ăn để đảm bảo năng suất trứng cao. Thức ăn cho gà nên ở mức 160gr/ con/ ngày.
– Từ 41-64 tuần: Đây là giai đoạn gà bắt đầu đẻ ít hơn, thế nên bà con cũng cần giảm lượng thức ăn cho gà xuống còn khoảng 145gr/ con/ ngày.
Ngoài ra, bà co hãy tranh thủ bổ sung một số loại vitamin vào khẩu phần ăn của gà như vitamin A, D, E bằng cách trộn vào thức ăn. Trong những ngày nắng nóng, bà con nên cho gà uống thêm nước điện giải và vitamin C để giúp gà có thể giảm stress.
Trên đây là một số lưu ý trong việc cân chỉnh khẩu phần ăn trong chăn nuôi gà sinh sản. Về thức ăn sử dụng, bà con có thể lựa chọn cám công nghiệp hoặc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, các loại ốc, cá tạp làm thức ăn cho gà đều được. Bà con có thể kết hợp với việc sử dụng men ủ vi sinh để ủ thức ăn cho gà, giúp gà đẻ trứng đều, to với chất lượng tốt.

Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Tiêu Thụ Thức Ăn Của Gà

FCR (Feed conversion ratio)= tổng lượng cám sử dụng(kg)/tổng lượng thịt thu được(kg)
Để đạt được FCR thấp trong chăn nuôi đòi hỏi phải có kế hoạch và quá trình chăm sóc nuôi dưỡng tốt, các yếu tố ảnh hưởng tới sự tăng trong, lượng cám ăn vào, sự thất thoát cám đều làm cho FCR cao.
Để tối ưu hoá FCR thì đòi hỏi phải có sự chăm sóc và nuôi dưỡng tốt từ khi úm gà cho đến giai đoạn xuất bán, quản lý tốt là làm sao cho lượng ăn vào của gà tốt nhất và lượng cám thất thoát thấp nhất. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến FCR :

1.Quản lý tại nhà máy ấp:

Quá trình ấp nở đều ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng và FCR của gà. Nhiệt độ cao trong giai đoạn sau của quá trình ấp sẽ ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển của ruột, điều đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng của gà sau này.
Nếu nhiệt độ và độ thông thoáng trong quá trình vận chuyển không tốt cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của gà trong giai đoạn đầu và làm cho FCR cao

2. Chăm sóc và nuôi dưỡng:

a. Úm gà:

Việc úm gà trong 10 ngày đầu đóng vai trò rất quan trọng vì đây là giai đoạn hệ thống ruột phát triển rất nhanh chóng, hệ thống vi nhung mao phát triển tốt sẽ giúp gà chuyển hoá thức ăn tốt hơn
Úm gà tốt giúp cho vi nhung mao ruột phát triển, gà lớn nhanh khoẻ mạnh

b. Máng ăn:

Không đủ máng ăn sẽ làm khả năng tăng trọng của gà giảm, gà không đồng đều và FCR cao
Độ cao của máng ăn phải được điều chỉnh hàng ngày tuỳ thuộc vào kích cỡ của gà, điều này sẽ giúp gà có thể tiếp cận được thức ăn dễ dàng và tránh rơi vãi, việc thức ăn rơi vãi nhiều sẽ làm FCR cao. Do đó thức ăn không nên đổ đầy trong máng, thường là khoảng 2/3 của máng.
Không đủ máng ăn gà lớn nhỏ không đều

c. Hệ thống máng uống:

Phải đảm bảo đầy đủ các máng nước, các máng nước cũng phải được điều chỉnh thích hợp để gà có thể uống được.
Nước uống cho gà phải sạch và không nhiễm khuẩn, nước phải được kiểm tra định kỳ.
Nếu gà ít uống nước thì lượng ăn sẽ giảm, tốc độ tăng trưởng giảm, dẫn đến FCR sẽ cao.
Không đủ nước uống gà giảm ăn và tăng trọng kém.

d. Nhiệt độ:

Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến lượng ăn vào, nếu nhiệt độ quá thấp gà sẽ ăn nhiều hơn hoặc nếu nhiệt độ quá cao gà sẽ giảm ăn, kết quả là FCR cao.
Chuồng trại nóng gà giảm ăn, tăng trọng giảm, FCR cao

3. Thức ăn:

Đóng một vai trò rất quan trọng cho sự phát triển của gà, những thức ăn có dinh dưỡng tốt và hợp lý sẽ tối ưu hoá tốc độ phát triển của gà và lượng thức ăn sử dụng thấp, kết quả là FCR thấp.
Thức ăn có hàm lượng mycotoxin cao ( aflatoxin. DON, T2…) hoặc thức ăn có chứa nhiều chất gây kích ứng đường ruột như bột lông vũ, barley…sẽ làm tổn hại đến vi nhung mao ruột, điều này sẽ làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng của gà , sẽ làm FCR cao.
Kích cỡ của viên cám cũng ảnh hưởng đến FCR, nếu thức ăn quá bột gà sẽ giảm ăn hoặc kích cỡ viên cám không phù hợp sẽ làm gà ăn ít và vẫy thức ăn ra ngoài, nên FCR sẽ cao hơn bình thường
Thức ăn có hàm lượng toxin cao sẽ làm tổn thương hệ thống tiêu hoá, sẽ làm giảm sự hấp thu dinh dưỡng, FCR cao

4. Tỉ lệ chết và bệnh tật:

Tỉ lệ chết cao, đặc biệt là vào giai đoạn sau sẽ ảnh hưởng lớn đến FCR, bởi vì những gà này đã tiêu thụ một lượng lớn thức ăn nhưng trọng lượng thường không được cộng vào khi tính FCR.
Một số bệnh đường ruột như : bệnh cầu trùng, viêm ruột hoại tử, viêm ruột do virus, hội chứng còi cọc,.. đều tác động đến hệ thống đường ruột làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng của gà và kết quả là tăng trọng giảm, FCR cao.
Cầu trùng làm tổn thương đường ruột, làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng, làm FCR cao

5. An toàn sinh học:

Việc vệ sinh phòng bệnh tốt sẽ giúp cho gà khoẻ mạnh, tăng trưởng tốt và sẽ làm cho FCR thấp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *